Người bệnh nhân bị bệnh viêm gan C thường rất lo sợ và bi quan vì có thể chuyển sang xơ gan, ung thư gan. Thực tế thì ai cũng muốn được điều trị viêm gan c, nhưng không phải ai cũng đủ kiền trì và điều trị viêm gan c thực sự nghiêm túc.
Bà Vũ Thị Thu Hà cho biết giữa tháng 6-2009, chồng bà là ông H.V.T.
được bác sĩ của một bệnh viện chẩn đoán
viem gan C type 6. Bác sĩ này
nói ông T. phải chích và uống thuốc một năm.
Điều trị viêm gan c được sáu tháng thì
sức khỏe ông T. suy sụp hẳn, yếu sức, mệt mỏi, ăn không được, lở loét
khắp người… Ngày 13-1-2010, sau mũi chích của tháng thứ bảy ông T. cảm
thấy rất khó chịu, sau đó sốt, ớn lạnh, ói liên tục phải đi cấp cứu. Sau
một tháng cấp cứu, điều trị ở nhiều bệnh viện, ngày 16-2 ông T. qua đời
ở tuổi 64.
TS.BS Trần Tịnh Hiền – nguyên phó giám đốc Bệnh viện Bệnh nhiệt đới
TP.HCM – cho biết không phải bệnh nhân nào bị viêm gan C cũng phải điều
trị. Trước khi quyết định có điều trị hay không, bác sĩ phải cho bệnh
nhân xét nghiệm nồng độ siêu vi C trong máu, xác định xem siêu vi C
thuộc type di truyền nào (có sáu type khác nhau).
Ngoài ra, bệnh nhân cần phải được sinh thiết gan (đặc biệt là bị viêm
gan type 1) để xác định mức độ hư hại của gan, giai đoạn bệnh. Kết quả
sinh thiết sẽ giúp bác sĩ quyết định và đánh giá hiệu quả
điều trị viêm gan c cho
bệnh nhân chính xác nhất.
Tuy nhiên, tại VN đa số bệnh nhân không được sinh thiết gan trước khi
điều trị. Vì vậy, nếu chỉ xét nghiệm thấy nồng độ virus cao, xác định
type nào rồi cho bệnh nhân điều trị ngay là chưa đúng.
Theo TS Tịnh Hiền, việc điều trị cũng phải xem xét cụ thể trên từng
bệnh nhân, bởi phác đồ phối hợp hai loại thuốc đặc trị hiện nay là thuốc
Interferon (chích) và Ribavirin (uống) có rất nhiều phản ứng phụ.
Interferon khiến người bệnh có thể mệt mỏi, chán ăn, ói mửa, rụng tóc…
Ribavirin có thể gây ho, khó thở, ngứa, nổi ban đỏ ngoài da, mất ngủ, thiếu máu (các tác dụng phụ này sẽ hết sau khi ngưng điều trị).
Vì vậy, bác sĩ phải cân nhắc xem bệnh nhân bao nhiêu tuổi, thể trạng
thế nào (người mập, uống rượu nhiều có nguy cơ biến chứng nhiều hơn),
nồng độ siêu vi C bao nhiêu, có bệnh lý khác (tim mạch, tiểu đường…) kèm
theo không, khả năng kinh tế thế nào (do thuốc mắc tiền, điều trị kéo
dài). Nếu người bệnh đã 60-70 tuổi, đang khỏe mạnh, đi đứng bình thường,
xét nghiệm thấy có siêu vi C nhưng nồng độ không cao lắm, men gan chưa
có vấn đề gì thì không nên điều trị. Vì khi mắc bệnh cũng phải 20-25 năm
sau bệnh nhân mới có thể chuyển qua xơ gan.
Khi có chỉ định điều trị, bác sĩ phải theo dõi, đánh giá hiệu quả
điều trị cho bệnh nhân qua xét nghiệm nồng độ virus trong máu định kỳ
vào các tuần thứ 12, 24, 48 và 72. Ví dụ, bệnh nhân bị viêm gan C type
1, đã điều trị đến tuần 24 nhưng nồng độ virus trong máu không giảm thì
phải ngưng điều trị, vì có điều trị cũng không giúp được gì hơn cho
người bệnh mà còn làm họ thêm mệt mỏi, lo lắng, tốn kém tiền bạc vô ích.
Với những bệnh nhân này, khi ngưng điều trị
bệnh viêm gan c cần được theo dõi xơ gan,
ung thư gan định kỳ theo hướng dẫn của bác sĩ.
Thực tế nếu theo đúng nguyên tắc, trước khi điều trị
bác sĩ phải tư vấn cho người bệnh biết việc điều trị có lợi, hại thế
nào cho sức khỏe. Bệnh nhân phải được biết bệnh của họ điều trị trong
bao lâu,
dieu tri viem gan c như thế nào, cần chuẩn bị bao nhiêu tiền (do chi phí
điều trị tốn kém hàng trăm triệu đồng, bỏ nửa chừng sẽ làm siêu vi C
ngày càng kháng thuốc), chuẩn bị tinh thần, tâm lý để điều trị, nhất là
khi bị tác dụng phụ của
thuốc trị viêm gan c.
Trường hợp bệnh nhân gặp phản ứng trầm trọng do thuốc phải ngưng điều
trị ngay. Nếu bác sĩ vẫn cố điều trị, thay vì phải 10-20 năm nữa bệnh
nhân mới chết vì viêm gan C thì lại chết ngay vì phản ứng phụ của thuốc.
Xem tiếp:
Theo: Tuổi trẻ